TAILIEUCHUNG - ĐẠI CƯƠNG CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG KHỐI U VÙNG CỔ (Kỳ 2)

5. Các viêm Tuyến giáp có triệu chứng Bướu giáp: + Bệnh viêm Tuyến giáp tự miễn dịch: - Còn gọi là bệnh Hashimoto. - Bướu thường to lan toả, đôi khi là thể nhân. Mật độ chắc, không dính với tổ chức xung quanh. Bướu có khi khá to, chèn ép gây khó thở, nuốt vướng. Kèm theo bệnh nhân có thể có biểu hiện nhược giáp ở các mức độ khác nhau. - Điều trị chủ yếu là các thuốc thay thế Hocmon giáp (Thyreoidin, Triiodothyronin. . . ) và từng đợt ngắn thuốc Cocticoit. Chỉ mổ khi Bướu. | ĐẠI CƯƠNG CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG KHỐI U VÙNG CỔ Kỳ 2 5. Các viêm Tuyến giáp có triệu chứng Bướu giáp Bệnh viêm Tuyến giáp tự miễn dịch - Còn gọi là bệnh Hashimoto. - Bướu thường to lan toả đôi khi là thể nhân. Mật độ chắc không dính với tổ chức xung quanh. Bướu có khi khá to chèn ép gây khó thở nuốt vướng. Kèm theo bệnh nhân có thể có biểu hiện nhược giáp ở các mức độ khác nhau. - Điều trị chủ yếu là các thuốc thay thế Hocmon giáp Thyreoidin Triiodothyronin. . . và từng đợt ngắn thuốc Cocticoit. Chỉ mổ khi Bướu gây chèn ép khí quản mổ cắt một phần vùng eo tuyến để giải phóng chèn ép hoặc khi Bướu ở thể nhân. Bệnh viêm xơ tuyến giáp mãn tính - Còn gọi là bệnh Riedel. - Thường là Bướu giáp lan toả mật độ rất chắc do tổ chức liên kết trong bướu phát triển mạnh. Có khi Bướu khá to và dính vào tổ chức xung quanh nên rất kém di động. Bướu có thể chèn ép gây khó thở nuốt vướng. Bệnh nhân thường không bị nhược giáp do còn những phần nhu mô giáp lành hoạt động bù. - Khi Bướu gây chèn ép khí quản thì có chỉ định mổ cắt một phần vùng eo tuyến để giải phóng chèn ép. Bệnh viêm tuyến giáp bán cấp tính - Còn gọi là bệnh De Quervain hay bệnh Viêm tuyến giáp có tế bào khổng lồ. - Tuyến giáp có từng đợt to ra lan toả mật độ chẵc và đau. Đau ra cả vùng cổ họng và lan ra vùng tai gáy. Kèm theo bệnh nhân có sốt tăng bạch cầu trong máu. Một số trường hợp lúc đầu có cường chức năng tuyến giáp nhưng khi bệnh kéo dài thì có thể dẫn đến nhược giáp. - Điều trị chủ yếu là dùng Cocticoit. II. Các loại nang bẩm sinh vùng cổ 1. Nang mang Được tạo nên do còn lại một phần khe mang thứ hai đôi khi là khe mang thứ nhất hoặc thứ ba ở thời kỳ baò thai. Nang mang còn được gọi là Nang vùng cổ bên vì thường nằm ở phía bên cổ sát bờ trước cơ ức đòn chũm. Thường ở bệnh nhân trẻ 1-20 tuổi . Nang có hình tròn hay bầu dục ranh giới rõ mật độ căng và đàn hồi tiến triển chậm. Nhiêù khi nang bị bội nhiễm và vỡ rò qua da gây nên Rò vùng cổ bên miệng lỗ dò thường nằm ở sát phía trong bờ trước cơ ức đòn chũm miệng lỗ .

TỪ KHÓA LIÊN QUAN
TÀI LIỆU HOT