TAILIEUCHUNG - Chương 3 ĐẶC TÍNH HẠN CHẾ VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP CÓ THỂ QUÁ TẢI CỦA ĐCĐT TÀU QUÂN SỰ

Phạm vi làm việc của ĐCĐT nói chung là miền giới hạn bởi: trục hoành (n), các đường vuông góc với trục hoành đi qua các điểm tốc độ vòng quay nhỏ nhất và tốc độ vòng quay cực đại, và đường đặc tính ngoài. Các động cơ tàu quân sự (động cơ chính) dùng để quay chân vịt cố định bước và chân vịt biến bước, tạo ra lực đẩy để tàu chuyển động thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo tính năng kỹ chiến thuật của tàu | Một cách đơn giản hoá có thể hình dung sơ đồ tải trọng động cơ khi sóng gió như sau. Khi con tàu đi vào sóng, sức cản chuyển động tăng lên, lực đẩy và mô men chân vịt tăng, đặc tính trở nên nặng. Khi tàu ra khỏi con sóng, sức cản của vỏ tàu được giảm xuống, đặc tính chân vịt trở nên nhẹ. Khi quá độ từ đặc tính chân vịt nhẹ sang nặng, tải trọng động cơ bị thay đổi lúc đầu theo đặc tính điều tốc còn khi ra tới đặc tính ngoài thì theo đặc tính ngoài. Đối với điểm chế độ định mức 1 đây là đường 1’-1-1’’. Đối với điểm tải trọng bộ phận (điểm A) là đường 2’-A-2’’. Đối với tải trọng giảm bộ phận (điểm 3) là đường 3’-3-3’’. Từ đồ thị thấy rằng, trong các điều kiện giông bão, đòi hỏi phải giảm tải và số vòng quay cho động cơ để chế độ hoạt động không vượt ra ngoài vùng làm việc cho phép (ra ngoài đặc tính hạn chế). Cũng cần thấy rằng, cấp sóng càng lớn thì sự phân cách các đặc tính chân vịt càng lớn. Quá trình làm việc của động cơ chuyển liên tục từ tải trọng này sang tải trọng khác tạo nên sự không ổn định của chế độ làm việc, tăng tổn thất năng lượng cho việc khắc phục các mô men động lượng của sức cản, làm tăng sự quá tải chung của động cơ. Sự mất ổn định của chế độ làm việc phá huỷ chế độ bôi trơn đã thiết lập của các chi tiết riêng biệt và làm tăng sự mài mòn của chúng. Khi tăng tải trọng, tua bin - máy nén tăng áp của động cơ tăng áp cung cấp không khí chậm hơn, làm cho động cơ làm việc với hệ số dư lượng không khí giảm và do đó ứng suất nhiệt tăng.

TỪ KHÓA LIÊN QUAN
TÀI LIỆU LIÊN QUAN