TAILIEUCHUNG - CAO LƯƠNG KHƯƠNG (Kỳ 2)

Tham khảo: + Cao lương khương trừ hàn thấp, ôn Tỳ Vị. Đối với người cao tuổi Tỳ Thận hư hàn, tiêu chảy, kiết lỵ, tâm vị bạo thống, do khí nộ, do hàn đờm, dùng Cao lương khương tính vị thuần dương, cay nóng để trị các chứng hàn lạnh kinh niên, tác dụng giống như Quế, Phụ. Nếu hàn tà phạm Vị gây ra nôn mửa, thương thực do ăn chất sống lạnh sinh hoắc loạn thổ tả, phải dùng nhiều Nếu trị Tỳ Vị hư hàn, cần phối hợp với Sâm, Kỳ, Bán hạ, Bạch truật là. | CAO LƯƠNG KHƯƠNG Kỳ 2 Tham khảo Cao lương khương trừ hàn thấp ôn Tỳ Vị. Đối với người cao tuổi Tỳ Thận hư hàn tiêu chảy kiết lỵ tâm vị bạo thống do khí nộ do hàn đờm dùng Cao lương khương tính vị thuần dương cay nóng để trị các chứng hàn lạnh kinh niên tác dụng giống như Quế Phụ. Nếu hàn tà phạm Vị gây ra nôn mửa thương thực do ăn chất sống lạnh sinh hoắc loạn thổ tả phải dùng nhiều. Nếu trị Tỳ Vị hư hàn cần phối hợp với Sâm Kỳ Bán hạ Bạch truật là tốt. Nếu dùng độc vị mà dùng nhiều thuốc có tính cay nóng tẩu tán sẽ làm hao tổn trung khí Bản Thảo Hội Ngôn . Can khương Lương khương Sinh khương đều có tác dụng ôn trung khử hàn. Nhưng Can khương chuyên về ôn Tỳ chỉ tả Lương khương chuyên về ôn trung chỉ thống còn Sinh khương chuyên về ôn vị chỉ ẩu Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển . Can khương đại nhiệt thiên về hoá hàn tà ở Tỳ trị tiêu chảy do Tỳ hàn. Sinh khương cay nhiều hơn ôn thiên về đi lên và đi ra phần biểu để khử hàn tà ở ngoài chống nôn mửa. Cao lương khương thì ôn nhiều hơn cay giỏi công ở bên trong đi vào phần lý thiên về tán hàn ở Vị chỉ thống Đông Dược Học Thiết Yếu . Cao lương khương và Can khương đều có vị cay tính ấm đều là thuốc chủ yếu để ôn tán hàn tà ở trung tiêu. Cao lương khương thiên về trị hàn ở Vị. Cao lương khương khác với Sinh khương ở chỗ Cao lương khương ôn nhiều hơn tân thiên về tẩu ở phần lý tán hàn ở Vị chỉ thống. Sinh khương tân nặng hơn ôn thiên về tẩu ở phần biểu tân tán phong hàn mà hoà Vị khí để chỉ ẩu Thực Dụng Trung Y Học . Hiểu thêm về Cao lương khương Tên khoa học Alpinia offcinarum Hace. Họ Zingberaceae. Mô tả Cây thảo cao cỡ 1-2m. Thân rễ mọc bò ngang dài hình trụ đường kính tới 2 cm màu đỏ nâu phủ nhiều vẩy chia thành nhiều đốt không đều nhau màu trắng nhạt. Lá không cuống sáng bóng hình mũi mác hẹp hai đầu nhọn dài tới 40cm rộng tới hơn 2cm bẹ lá dạng vẩy lưỡi bẹ dạng vảy nhọn. Cụm hoa hình chùy mọc ở ngọn thẳng có lông mềm dài chừng 10cm. Hoa mọc sít nhau có lá bắc nhỏ đính trên những gờ nổi ngắn. Đài hình ống có lông chia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN